Quan niệm truyền thống của người Việt Nam ta thường cho rằng, học tập là rất căng thẳng, mệt mỏi, phải rất tập trung, phải ngồi trên lớp nghe giảng, dạy và học phải có hệ thống. Cho nên trước khi bước vào lớp một, cha mẹ chỉ cần cho trẻ ăn no, ngủ đủ, khỏe mạnh và được vui chơi.
Nhưng thực tế không phải như vậy, việc học tập của trẻ từ 0-6 tuổi chủ yếu được tiến hành thông qua tiếp xúc trực tiếp với môi trường và các trò chơi. Bản năng của trẻ là rất tò mò và ham tìm hiểu. Chỉ cần có cuộc sống phong phú, đa dạng là có thể tăng cường những điều mắt thấy tai nghe cho trẻ một cách hiệu quả, không nhât thiết phải dạy theo bài giảng một cách hệ thống.
Bạn hãy biết rằng người lớn chúng ta dạy trẻ có chủ đích nhưng trẻ học trong vô thức, chúng không hề biết rằng đó là học, do đó chúng ta không cần lý giải một cách sâu sắc, không cần cố làm cho trẻ hiểu và tuyệt đối không kiểm tra trẻ. Bạn hãy cứ “đàn gẩy tai trâu” bởi trẻ nhỏ như “vẹt con học nói”. Đó là phương pháp học tập mang tính thẩm thấu. Khi lần đầu tiên tiếp xúc với một vật, có thể bạn không hiểu nó rõ lắm, nhưng sau vài lần, vật ấy sẽ tự nhiên thấm vào óc bạn mà bạn không hề hay biết. Đây chính là phương pháp học tập của chương trình Giáo dục sớm dành cho trẻ từ 0-6 tuổi.
Quan điểm sai về thông minh là tố chất có sẵn, trẻ đã thông minh thì không dạy cũng vẫn thông minh
Có 2 quan điểm trái ngược nhau: trẻ thông minh là do tư chất, do gen di truyền của cha mẹ truyền lại, tóm lại là tài năng bẩm sinh và trẻ thông minh là do được dạy dỗ tốt. Có rất nhiều bằng chứng chứng minh cho từng luận điểm, xin chia sẻ lại với bạn quan điểm phù hợp hơn. Yếu tố bẩm sinh, di truyền là điều rất rõ ràng, những những tố chất bẩm sinh này chỉ ở dạng tiềm ẩn, để khai thác được cần nhờ vào sự giáo dục và rèn luyện mới có thể phát huy tối đa được. Chúng là làm 1 ví dụ: có 2 trẻ, em A sinh ra đã mang sẵn tố chất 80 điểm, em B là 60 điểm. Nếu em A được giáo dục theo cách bình thường, phát huy được 20% tố chất thì sẽ chỉ là 16 điểm mà thôi, còn em B được giáo dục tốt, phát huy được 50% tố chất thì sẽ là 30 điểm. Vậy có phải em B đã thể hiện được khả năng vược trội so với em A?
Một ví dụ thực tế mà tôi có thể tự tin dẫn chứng ra, chúng ta biết đến cuốn sách thai giáo của Sisedike, trong đó có nêu, về lý thuyết di truyền, xác xuất để 1 gia đình có 4 người con đạt chỉ số IQ trên 150 như gia đình học là rất thấp, phải mô tả bằng “con số thiên văn”, bạn có thể hiểu là cực kỳ nhỏ, giống như 1 lúc nào đó tất cả khí trong 1 căn phòng rộng chỉ tập trung ở 1 góc phòng, xác xuất để điều này xảy ra là có, nhưng siêu nhỏ, và chúng ta hiểu là không thể. Thực tế là cả 4 người con của gia đình Sisedike đều được giáo dục bằng những phương pháp đặc biệt, và chúng ta có thể tin rằng, yếu tốt giáo dục là yếu tố quyết định tài năng của trẻ.
Quan điểm cho rằng trẻ thông minh sớm sẽ sớm tự mãn, không tập trung học và bị cô lập với các bạn và có xu hướng bị tự kỷ
Rất nhiều trường hợp đã rơi vào tình huống này. Có 2 lý do cho việc này. Một là trẻ đã dành quá nhiều thời gian cho 1 đam mê nào đó và bỏ qua các hoạt động khác, dẫn đến việc bị lệch, thường là bỏ qua các tương tác xã hội, không chơi với người khác mà đóng mình 1 chỗ. Hai là cha mẹ đã không dạy cho trẻ các nguyên tắc đạo đức, trong đó có việc khiêm tốn, ham học hỏi và giúp đỡ người khác và những người xung quanh lại quá tung hô khả năng vượt trội của trẻ. Vì thế, nếu trẻ mắc phải vấn đề trên thì lỗi nằm ở cha mẹ và những người xung quanh chứ không phải ở giáo dục sớm. Trẻ được giáo dục sớm ở nhà dù đã biết rất nhiều, nhưng không thể biết hết được, đến lớp vẫn có nhiều điều phải học, với 1 thái độ cầu thị và luôn coi mọi người đều có gì đó cho mình học thì trẻ sẽ học rất nghiêm túc. Thay vì kiêu ngạo thì trẻ được giáo dục sớm có thể giúp các bạn mình học bài, hiểu bài, như vậy không có lý do gì trẻ bị cô lập cả.
Quan điểm về khó và dễ: Trong suy nghĩ của trẻ không có sự phân biệt giữa khó và dễ. Chúng không hề biết khó hay dễ là cái gì, chúng sẽ tiếp nhận khi cảm thấy hiếu kỳ, ngược lại sẽ từ chối khi cảm thấy không thích. Chúng chưa bao giờ có cảm giác nghĩa vụ, cảm giác trách nhiệm hay cảm giác khó khăn. Bạn luôn cho rằng học tiếng mẹ đẻ dễ, học ngoại ngữ khó. Nhưng trẻ lại không nghĩ thế. Từ khi trẻ được sinh ra, bất cứ ngôn ngữ nào trẻ được tiếp xúc sớm nhất cũng đều là ngoại ngữ đồng thời là tiếng mẹ đẻ. Giả sử một em bé có mẹ nói tiếng Việt, bố nói tiếng Anh, bà nội nói tiếng Pháp… thì lẽ tất nhiên bé sẽ nói tất cả những ngôn ngữ ấy mà không cần phân biệt đâu là dễ đâu là khó, đâu là ngoại ngữ, đâu là tiếng mẹ đẻ.
Quan điểm về khổ và sướng: người lớn thường sợ trẻ con khổ sở khi phải học từ sớm. Có người còn tuyên bố rằng: Tôi không để con mình phải học, chỉ cần nó tự do tự tại vui chơi là được. Thế nhưng người đó đâu biết rằng giáo dục ngay từ đầu một cách khoa học chính là cuộc sống vui vẻ nhất của trẻ. Trẻ là một đối tượng không sợ bất cứ một áp lực nào, không có một đứa trẻ bị bắt ép nào mà lại thông minh sớm cả. Bạn bắt ép trẻ học, trẻ sẽ phản kháng, bạn tiếp tục ép trẻ sẽ khóc, bạn vẫn còn muốn ép trẻ sẽ lăn ra ngủ. Nếu người lớn ép học sẽ chỉ khiến chúng nảy sinh cảm giác chán ghét học hành mà thôGiáo dục sớm kết hợp hài hòa giữa học tập và vui chơi, “học mà chơi, chơi mà học”. Với tất cả những hoạt động chứa đầy sự thú vị và hấp dẫn, trẻ luôn vui vẻ động não, tập trung sự chú ý cũng như tiếp nhận kiến thức một cách tự nhiên, dù bạn không dạy chúng vẫn cứ học. Vì vậy giáo dục sớm phản đối việc “khổ học” đồng thời cũng phản đối trẻ vui chơi tự do vô bổ.
Quan điểm về sự nhồi nhét: phần lớn người lớn cho rằng trí não của trẻ còn quá non nớt, nếu chúng ta nhồi nhét kiến thức một cách thái quá sẽ khiến trẻ bị stress, mụ mẫm và không lớn được. Đây là một quan điểm hoàn toàn sai lầm. Trong giai đoạn này, trẻ học bằng phương pháp chụp ảnh. Nghĩa là tất cả những gì trẻ nhìn thấy đều được đưa lên não bằng hình ảnh. Cái tivi thật được não bé nhận diện là tivi, còn chữ “tivi” cũng in vào não bé một cách tương tự chứ bé không cần phải phân tích đâu là phụ âm, đâu là nguyên âm, đâu là dấu, đâu là âm tiết… Điều đó quá phức tạp, não bé chỉ cần biết rằng chữ “tivi” tức là tivi, thế thôi. Hãy nhớ rằng em bé chính là cái “máy chụp ảnh”, cái “máy ghi âm” và “máy nghe trộm” tinh vi nhất. Vì thế những gì não bé được tiếp xúc sẽ hằn sâu trong tiềm thức, trở thành cái gốc, cái nền móng giúp bé học tập dễ dàng hơn khi trưởng thành.
Kết luận: Chỉ có một cuộc sống phong phú về thể lực và trí lực, đời sống tình cảm tốt và các hoạt động làm tang ý chí mới có thể đem lại cho trẻ những năm tháng ấu thơ tươi vui và hạnh phúc, mới để lại trong chúng những thời khắc vàng của tuổi thơ. Do đó, các bạn đừng bao giờ để con trẻ tự do vui chơi vô bổ trong những năm tháng đầu đời.
Sưu tầm
Brainmaster – Chương trình giáo dục sớm phát triển tiềm năng trí tuệ trẻ
